LIÊN KẾT WEBSITE


 

TRỢ GIÚP TRỰC TUYẾN

 
Điện thoại:  0269.3      
Email:..........@gialai.gov.vn

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Hôm nay: 0
Tuần hiện tại: 0
Tháng hiện tại: 0
Năm hiện tại: 8
Tổng lượt truy cập: 16
Số người on-line: 1
Phần thứ nhất
KIỂM ĐIỂM VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT
ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ XÃ LẦN THỨ XI
(Nhiệm kỳ 2015-2020)
 
      Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XI, nhiệm kỳ 2015 - 2020, Đảng bộ xã đã lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đạt và vượt 17/28 chỉ tiêu, cụ thể như sau:
       I- Kết quả đạt được
      1. Về kinh tế
      1.1. Ưu điểm
     - Trong nhiệm kỳ, kinh tế của xã có bước tăng trưởng khá; thu nhập bình quân đầu người năm 2020 ước đạt 42,4 triệu đồng, tăng gấp 1,76 lần so với năm 2015 (năm 2015 là 24 triệu đồng/người/năm), bằng 94,2% nghị quyết.
      Nông nghiệp: Năm 2020, tổng diện tích cây trồng chủ yếu trên địa bàn xã là 4.473ha (bằng 118,2% nghị quyết), tăng so với năm 2015 là 689ha. Triển khai thí điểm mô hình tưới nhỏ giọt trên cây cà phê theo dự án VNSAT, với diện tích 01 ha; cải tạo, tái canh cây cà phê 5 năm 280ha, bình quân mỗi năm 56/30 ha, đạt 186,7% nghị quyết. Thành lập 02  Tổ liên kết sản xuất (01 tổ trồng cà phê, 01 tổ trồng chanh dây) và thành lập 01 hợp tác xã nông nghiệp - dịch vụ Đại Lộc.
      Tình hình chăn nuôi cơ bản ổn định, đã hình thành một số mô hình gia trại, trang trại quy mô nhỏ; một số hộ chăn nuôi bò chuyển dần sang trồng cỏ nuôi nhốt. Công tác phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh và cải tạo giống đàn gia súc, gia cầm được quan tâm.
Với lợi thế có diện tích mặt nước tại Hồ Ia Băng với diện tích là 35ha, được Ủy ban nhân dân huyện hỗ trợ thả 35.000 con cá giống, cùng với hơn 3ha diện tích các ao, hồ nhỏ của nhân dân, hằng năm đã cung cấp cho thị trường khoảng hơn 05 tấn cá/năm và phục vụ thức ăn hằng ngày cho nhân dân các thôn, làng gần hồ.
     Công tác trồng và chăm sóc bảo vệ rừng được quan tâm, với diện tích đất rừng do xã quản lý xung quanh Hồ Ia Băng và một phần đồi Chư Teh, với diện tích 11,66ha.
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới được triển khai sâu rộng với sự tham gia của khá đông đảo nhân dân. Đã lồng ghép có hiệu quả các nguồn lực từ các chương trình mục tiêu Quốc gia, nguồn vốn của tỉnh, huyện và nguồn lực của nhân dân với tổng nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2015 -2020 là 218,679 tỷ đồng. Năm 2015, xã đạt 9/19 tiêu chí, đến nay qua tự đánh giá xã đạt được 15/19 tiêu chí (tăng 6 tiêu chí so với năm 2015); hiện còn 04 tiêu chí chưa đạt (năm 2020, xã đăng ký đạt 03 tiêu chí: Tiêu chí số 6- Cơ sở vật chất văn hóa; Tiêu chí số 13- Hình thức tổ chức sản xuất; Tiêu chí số 18- Hệ thống tổ chức chính trị và tiếp cận pháp luật).
      Sản xuất công nghiệp - xây dựng có bước phát triển; các cơ sở chế biến nông sản, cơ khí sửa chữa phục vụ nông nghiệp, ... được đầu tư và đi vào hoạt động có hiệu quả. Trong nhiệm kỳ 2015-2020, đã tập trung triển khai thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn xã theo hướng đạt chuẩn xây dựng Nông thôn mới, trong đó ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng các công trình thiết yếu để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; cùng với nguồn vốn nhà nước, nhân dân đã đóng góp để triển khai đầu tư xây dựng, sửa chữa cơ sở hạ tầng, điện, đường, trường, trạm tương đối đồng bộ, với kinh phí 75,755 tỷ đồng.
      Thương mại - dịch vụ tiếp tục phát triển; hàng hóa ngày càng đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2019 đạt 10,126 tỷ đồng, gấp 1,19 lần so với năm 2015. Thành phần kinh tế tư nhân có bước phát triển, góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn.
      Tổng thu ngân sách bình quân trên địa bàn giai đoạn 2015-2020 là 8.459,6 triệu đồng  (tăng 31,7%/năm; nghị quyết là 8,5%/năm). Trong đó thu cân đối ngân sách bình quân năm 1.085,5 triệu đồng. Tổng chi ngân sách trên địa bàn giai đoạn 2015-2020 là 6.326,1 triệu đồng (bình quân tăng 18,2%/năm; Nghị quyết là 8,5%).
     Công tác quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trường có chuyển biến tích cực. Diện tích đo đạc được 4.324,06 ha, bằng 81,06% diện tích cần đo, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được 3.046,42 ha diện tích cần cấp. Các cơ sở sản xuất kinh doanh đều có cam kết về bảo vệ môi trường và thực hiện đúng theo bản cam kết. Kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp khai thác đá mồ côi và tài nguyên đất trái pháp luật.
      1.2. Hạn chế, khuyết điểm
     Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2020 ước đạt 42,4 triệu đồng, chỉ đạt 94,2% nghị quyết (42,2/45triệu). Tổng sản lượng lương thực quy ra thóc và năng suất các loại cây trồng đạt thấp; việc chuyển đổi các diện tích ruộng lúa thường thiếu nước sang trồng các loại cây trồng khác còn hạn chế; ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp chưa nhiều, chủ yếu vẫn dựa vào tự nhiên; sản xuất nông nghiệp vẫn mang nặng tính tự phát, chưa có định hướng cụ thể trong phát triển sản xuất. Đã hình thành 02 tổ liên kết sản xuất nông nghiệp (cà phê, chanh dây), nhưng qua đánh giá thì hoạt động chưa hiệu quả. Chưa xây dựng được các mô hình điển hình trong sản xuất nông nghiệp, nhất là sản xuất theo hướng hữu cơ nhằm tạo ra sản phẩm nông nghiệp sạch để tăng giá trị sản phẩm.
       Quy mô công nghiệp - xây dựng, dịch vụ nhỏ lẻ. Công tác tuyên truyền, vận động các hộ kinh doanh cá thể phát triển thành doanh nghiệp chưa được quan tâm đúng mức; chưa phát huy được lợi thế là xã có vị trí cửa ngõ phía Nam của huyện và giáp ranh, vành đai của thành phố Pleiku.
       Cơ sở vật chất trường học chưa đảm bảo, nhất là các điểm trường làng xa trung tâm, Trạm Y tế xã chưa đảm bảo,….
        Công tác quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên, khoáng sản và xây dựng nhà ở tư nhân còn hạn chế, xảy ra nhiều sai phạm nhưng chưa xử lý triệt để; tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức trong việc xử lý rác thải hộ gia đình chưa tốt.
       Thu ngân sách nhà nước vẫn còn tình trạng sót nguồn thu (nhất là thuế xây dựng nhà ở tư nhân), nợ thuế, nhưng chưa có biện pháp quyết liệt trong công tác thu.
- Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới được triển khai đã 10 năm và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, song công tác tuyên truyền, vận động và huy động sức dân tham gia có mặt còn hạn chế. 
       2. Văn hóa - xã hội
       2.1. Ưu điểm
     Công tác giáo dục và đào tạo được triển khai đảm bảo chương trình, kế hoạch, chất lượng dạy và học được nâng lên; cơ sở vật chất, trường lớp không ngừng được đầu tư theo hướng đạt chuẩn quốc gia.
    Các chương trình quốc gia về y tế - dân số được triển khai đồng bộ; việc cung ứng thuốc và trang thiết bị y tế được cấp trên chú trọng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu khám, chữa bệnh ban đầu cho nhân dân; dịch bệnh nguy hiểm không xảy ra. Hiện nay          Trạm Y tế xã 06 biên chế; 11/11 thôn, làng có cán bộ y tế thôn; Trạm y tế xã tiếp tục duy trì đạt chuẩn Quốc gia. Công tác tuyên truyền về sức khỏe, dân số đã được triển khai rộng khắp, từ đó nâng cao ý thức của người dân trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe những lúc ốm đau.
    Công tác thông tin, tuyên truyền được đổi mới, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, kịp thời tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của địa phương đến với người dân; hệ thống thông tin liên lạc được mở rộng, mạng lưới trạm thu phát sóng di động (BTS) mạng viễn thông được phủ kín toàn xã. Trang thông tin điện tử của xã thường xuyên cập nhật văn bản mới, những thông tin mang tính thời sự để phục vụ nhu cầu thông tin cho cán bộ và nhân dân.
    Hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao tiếp tục chuyển biến tích cực, cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và đời sống tinh thần của nhân dân. Thiết chế văn hóa được quan tâm đầu tư xây dựng. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng Nông thôn mới, đô thị văn minh” được triển khai tích cực và đạt được kết quả quan trọng. Phong trào thể dục, thể thao quần chúng có bước phát triển. Công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc bước đầu được quan tâm; thường xuyên thành lập các đội tham gia các hội thi, hội diễn, tạc tượng, cồng chiêng và múa xoang, hội thi văn hóa - thể thao các dân tộc thiểu số do cấp trên tổ chức.
      Triển khai thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, góp phần ổn định đời sống của nhân dân, nhất là công tác xóa đói, giảm nghèo. Đã lồng ghép có hiệu quả các chương trình, dự án để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo; từ việc triển khai tích cực, hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, đã góp phần tích cực trong công tác giảm nghèo bền vững; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân đạt 2,98%/năm. Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động, nhất là người dân tộc thiểu số đạt được nhiều kết quả tích cực. Đến nay xã được công nhận làm tốt công tác chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công.
     Các chính sách về dân tộc được triển khai đồng bộ, mang lại hiệu quả tích cực, góp phần thay đổi nếp nghĩ, cách làm của người đồng bào dân tộc thiểu số. Đã huy động nhiều nguồn lực, lồng ghép các chương trình, dự án, ưu tiên cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tại các làng đồng bào dân tộc thiểu số. Bộ mặt nông thôn chuyển biến rõ nét; cán bộ đồng bào dân tộc thiểu số bước đầu được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và bố trí giữ một số chức danh cán bộ, công chức tại xã và tại các thôn, làng; đoàn kết giữa các dân tộc được củng cố, phát huy.
     Thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo; đồng bào có đạo luôn tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý, điều hành của Nhà nước.
      2.2. Hạn chế, khuyết điểm
     Chất lượng giáo dục vẫn chưa đồng đều giữa học sinh dân tộc kinh và học sinh dân tộc thiểu số; huy động trẻ trong độ tuổi là người đồng bào dân tộc thiểu số vào học lớp 6 chưa đạt chỉ tiêu; vẫn còn tình trạng học sinh đi học thiếu chuyên cần, bỏ học trong dịp hè. Công tác định hướng nghề nghiệp cho học sinh hoàn thành chương trình bậc học trung học cơ sở chưa tốt, do vậy số lượng học sinh tiếp tục học bậc học trung học phổ thông, Giáo dục thường xuyên và học nghề còn thấp.
     Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình vẫn còn một số hạn chế, như: Công tác truyền thông chưa thường xuyên, đối tượng tham gia ít; vẫn còn tình trạng tảo hôn; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vẫn ở mức cao so với trung bình chung của huyện; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên còn cao, cá biệt có trường hợp người vi phạm là cán bộ, công chức.
    Một số hộ được công nhận thoát nghèo nhưng vẫn có nguy cơ tái nghèo, tỷ lệ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số cao (66/69 hộ, chiếm 95,7%). Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn chưa được quan tâm đúng mức; Trung tâm học tập cộng đồng chậm được củng cố, kiện toàn, sau khi được củng cố kiện toàn cũng chưa có kế hoạch hoạt động cụ thể. Tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện còn hạn chế. 
    Công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của địa phương đến nhân dân còn hạn chế; Trạm Truyền thanh của xã chưa phát huy hết chức năng, nhiệm vụ, việc biên tập tin, bài để phát trên sóng Trạm Truyền thanh xã còn ít. Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao còn hạn chế, chủ yếu mới dừng lại ở việc tham gia các giải, hội thi, hội diễn do cấp trên tổ chức. Công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của người dân tộc bản địa chưa hiệu quả. Công tác quản lý Nhà nước về hoạt động thông tin và dịch vụ internet còn hạn chế.
     Công tác quản lý Nhà nước về dân tộc, tôn giáo có mặt còn hạn chế; trong nhiệm kỳ vẫn để xảy ra một số vi phạm trong hoạt động tôn giáo, nhất là việc cơi nới, xây dựng cơ sở thờ tự chưa đúng theo quy định của pháp luật; ngoài ra còn xảy ra 01 vụ nghi ngờ “ma lai”, “thuốc thư” tại làng Brông Thoong.  
    3. Về quốc phòng - an ninh và tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng
    3.1. Ưu điểm
    3.1.1. Quốc phòng - quân sự địa phương
   Công tác quốc phòng - quân sự địa phương luôn được Đảng ủy, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Công tác giáo dục quốc phòng - an ninh được triển khai đồng bộ; tuyển quân hàng năm đều hoàn thành 100% chỉ tiêu huyện giao, chất lượng giao quân ngày càng cao. Tổ chức diễn tập chiến đấu phòng thủ cấp xã đạt loại khá. Thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.
    Công tác xây dựng chi bộ Quân sự và phát triển đảng trong lực lượng dân quân, dự bị động viên được quan tâm. Hằng năm, công tác quốc phòng - quân sự địa phương của xã luôn được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.
    3.1.2. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
   Công tác phối hợp giữa các lực lượng theo Nghị định số 77/2010/NĐ-CP và Nghị định số 133/2015/NĐ-CP của Chính phủ được quan tâm triển khai thực hiện. Chất lượng hoạt động của lực lượng Công an xã ngày càng được nâng lên, nhất là sau khi xã được phân công Công an chính quy về làm trưởng, phó trưởng công an xã. Triển khai có hiệu quả các giải pháp đảm bảo an ninh chính trị trên địa bàn, không để xảy ra biểu tình, gây rối, bạo loạn. Chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời phối hợp với các cơ quan chức năng của huyện, tỉnh phát hiện và đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nhất là âm mưu từ bên ngoài nhằm phục hồi hoạt động FULRO, “Tin lành Đê Ga”, lôi kéo, kích động, vượt biên và lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động chống phá sự nghiệp cách mạng. Công tác tuyên truyền nâng cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa được triển khai thường xuyên, có hiệu quả. Chỉ đạo thực hiện tốt nắm tình hình tại các thôn, làng, kịp thời phát hiện và giải quyết các vụ việc có liên quan đến an ninh nông thôn; thường xuyên tổ chức phát động phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, góp phần đảm bảo ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
     Công tác phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông được triển khai đồng bộ, tích cực, hiệu quả. Tinh thần quần chúng tham gia bảo vệ an ninh trật tự tại khu dân cư, gắn với phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc ngày càng được nâng cao.
     3.1.3. Tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng
   Công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đạt kết quả, trong nhiệm kỳ Đảng ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân đã tiếp 101 lượt công dân đến phản ánh, kiến nghị; tiếp nhận 83 đơn thư khiếu nại, tố cáo. Không để xảy ra các vụ việc tham nhũng, lãng phí; đã tổ chức 01 buổi đối thoại giữa Chủ tịch UBND xã với nhân dân làng Châm Prông liên quan đến đất 134.
      3.2. Hạn chế, khuyết điểm
     Công tác quốc phòng - quân sự địa phương vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm, như: công tác tuyển quân vẫn còn sai sót; chưa có chế tài xử lý nghiêm đối với những trường hợp vắng hoặc trốn khám nghĩa vụ quân sự; việc điều tra, đăng ký độ tuổi 17 và gọi khám còn sót nguồn. Tạo nguồn và phát triển đảng viên trong lực lượng dân quân, dự bị động viên đạt thấp. Tổ chức sinh hoạt dân quân và chi đoàn dân quân chưa thường xuyên; tuyên truyền, vận động quân nhân xuất ngũ đi học nghề chưa tốt, gây thất thoát, lãng phí kinh phí của Nhà nước; việc kết nối giữa doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể để giải quyết việc làm cho quân nhân xuất ngũ chưa được quan tâm.
     Tình hình an ninh chính trị tuy cơ bản ổn định, nhưng vẫn tiềm ẩn yếu tố phức tạp, vẫn còn tình trạng để tái hoạt động FULRO, “Tin lành Đê Ga”. Phạm pháp hình sự, tai nạn giao thông tăng cao nhưng chưa có biện pháp hiệu quả để kiềm chế. Phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” được phát động nhưng phương pháp tuyên truyền còn cứng nhắc, chưa thu hút được đối tượng cần tuyên truyền tham gia. Công tác quản lý nhân khẩu, hộ khẩu, khai sinh có lúc chưa kịp thời.
     4. Về xây dựng Đảng
     4.1. Ưu điểm
    Công tác giáo dục chính trị tư tưởng luôn được coi trọng và đổi mới với nhiều hình thức và cách làm đa dạng, phong phú. Đã triển khai nghiêm túc việc học tập, quán triệt và xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các nghị quyết của Trung ương và của tỉnh, huyện, từ đó đã nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, mang lại tâm trạng phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Công tác tuyên truyền nâng cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh với các thủ đoạn “diễn biến hòa bình’’ của các thế lực thù địch, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa được thực hiện kịp thời. Việc nắm thông tin và định hướng tư tưởng, tâm trạng, dư luận xã hội từng bước đi vào nề nếp, nhất là định hướng tư tưởng gắn với đấu tranh, phản bác các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch trên không gian mạng.
      Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII), được Đảng ủy, các chi bộ trực thuộc Đảng ủy nghiêm túc quán triệt, triển khai thực hiện với tinh thần trách nhiệm cao. Các kết luận sau kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) được Đảng ủy, các Chi bộ trực thuộc Đảng ủy và hầu hết đảng viên xây dựng kế hoạch khắc phục và thực hiện, đúng lộ trình đã đề ra. Hầu hết đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đã chú trọng nâng cao tinh thần trách nhiệm, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, đổi mới lề lối làm việc, giữ gìn đạo đức, lối sống, tự sửa chữa khuyết điểm, điều chỉnh hành vi, các hoạt động trong công tác và trong cuộc sống. Đảng ủy, các Chi bộ trực thuộc Đảng ủy đã nhận thức rõ, sâu sắc hơn tình trạng và những biểu hiện suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Một số sai phạm được phát hiện và xử lý phù hợp theo đúng quy định, được dư luận xã hội đồng tình, ủng hộ.
      Qua 04 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đã tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Nhiều đơn vị đã phát huy tính chủ động, sáng tạo, đề ra các giải pháp phù hợp để đưa việc làm theo gương Bác trở thành thường xuyên, liên tục. Ngày càng nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến được các cấp biểu dương, khen thưởng.
     - Trong nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Đảng bộ xã và Ban Thường vụ Đảng ủy xã thực hiện nghiêm túc Quy chế làm việc và Chương trình làm việc đã đề ra; tiếp tục có những đổi mới về cách thức, lề lối làm việc, phát huy dân chủ, trí tuệ tập thể, tạo được sự đoàn kết, thống nhất cao trong cấp ủy và trong toàn Đảng bộ. Tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 03-NQ/HU, ngày 17/12/2015 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XVI về nâng cao năng lực công tác của đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở và năng lực lãnh đạo của các chi bộ thôn, làng, tổ dân phố; công tác củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện; việc quy hoạch, đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số được quan tâm, do vậy cán bộ của xã cơ bản đủ về số lượng và đảm bảo tiêu chuẩn các mặt về chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Trên cơ sở quy hoạch cán bộ, Đảng ủy đã chủ động tham mưu cho cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định luân chuyển một số chức danh cán bộ theo đúng quy định.
Ngay sau Đại hội lần thứ XI, Đảng ủy đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị của xã và thực lực chính trị tại các thôn, làng; chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo tinh thần Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 30/3/2007 của Ban Bí thư và Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW, ngày 02/3/2012 của Ban Tổ chức Trung ương (nay là Hướng dẫn số 12-HD/BTCTW ngày 06/7/2018 của Ban Tổ chức Trung ương). Tính đến nay xã có 16 chi bộ trực thuộc, trong đó có 11 chi bộ thôn, làng, 04 Chi bộ các trường học và Chi bộ Quân sự; qua đánh giá, phân loại hằng năm, Đảng bộ xã đều đạt hoàn thành tốt nhiệm vụ; các chi bộ trực thuộc được xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; bí thư chi bộ thôn, làng là người tại chỗ 6/11 chi bộ, bằng 54,5% (chỉ tiêu nghị quyết là 50%). Công tác phát triển đảng viên được quan tâm, bình quân hằng năm đạt 7,78% so với tổng số đảng viên; qua phân loại hằng năm có trên 97% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.
      Việc lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai nhiệm vụ kiểm tra, giám sát được tiến hành đồng bộ, toàn diện theo đúng nguyên tắc, phương pháp công tác đảng, chất lượng, hiệu quả kiểm tra, giám sát từng bước được nâng lên. Qua kiểm tra, giám sát đã phát hiện một số hạn chế, khuyết điểm, Đảng ủy đã yêu cầu các chi bộ, đảng viên được kiểm tra, giám sát tổ chức họp kiểm điểm, đồng thời xây dựng kế hoạch khắc phục các hạn chế, khuyết điểm đã được chỉ ra. Trong nhiệm kỳ có 04 đảng viên vi phạm phải xử lý kỷ luật, chiếm 3,8% trên tổng số đảng viên trong toàn Đảng bộ; ngoài ra, còn có 02 đảng viên bị xóa tên ra khỏi danh sách đảng viên. Công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo đảm bảo kịp thời, đúng quy định. Kết quả hoạt động kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng đã góp phần tích cực trong việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng. 
     Công tác dân vận có chuyển biến tích cực, với phương châm hướng mạnh về thôn, làng, tập trung tháo gỡ những vấn đề khó khăn, bức xúc, nổi cộm trong nhân dân. Triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định số 290-QĐ/TW ngày 25/8/2010 của Bộ Chính trị; Quyết định số 1338-QĐ/TU ngày 31/5/2010 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc ban hành quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị và Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới. Duy trì hoạt động của tổ dân vận khéo, tổ hòa giải,... tại các thôn, làng.
         4.2. Hạn chế, yếu kém
    - Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên còn hạn chế, chưa thường xuyên, do vậy trong nhiệm kỳ có 04 đảng viên vi phạm phải xử lý kỷ luật (03 đảng viên khiển trách, 01 khai trừ); xóa tên khỏi danh sách đảng viên 02 đồng chí. Việc xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng cấp trên, một số văn bản vẫn còn tình trạng sao chép, nội dung còn chung chung, chưa sát với tình hình thực tế của địa phương, nên hiệu quả triển khai thực hiện chưa cao.
     - Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số đồng chí đảng ủy viên, chi bộ và đảng viên chưa cao; tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình còn hạn chế (có thời điểm một số đồng chí Đảng ủy viên có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ); công tác tạo nguồn cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của địa phương, do vậy thường xuyên bị động, hụt cán bộ. Trình độ, năng lực của một số cán bộ chuyên trách và công chức vẫn còn hạn chế. Công tác tạo nguồn còn hạn chế, phát triển Đảng viên không đạt chỉ tiêu nghị quyết đề ra (chỉ tiêu hằng năm phát triển đảng viên đạt 10% so với tổng số đảng viên, nhưng chỉ đạt 7,78%). Thành lập Chi ủy tại các thôn, làng không đạt chỉ tiêu nghị quyết đề ra (chỉ tiêu nghị quyết là 30%: năm 2018 là 3/12 chi bộ, bằng 25%; năm 2019 là 1/12 chi bộ, bằng 8,3%; năm 2020 là 01/11 chi bộ, bằng 9,1%); đảng viên là thôn trưởng 2/11, bằng 18,2%. Công tác đánh giá, xếp loại chi bộ và đảng viên hằng năm tuy đã đi vào thực chất hơn, nhưng có lúc, có nơi làm chưa chặt chẽ.
      Việc triển khai học tập, quán triệt và xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị vẫn còn chậm so với quy định; việc đăng ký học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) được triển khai, nhưng thực hiện chưa nghiêm, có đồng chí không đăng ký hoặc đăng ký hình thức, nội dung còn chung chung, chưa gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao, còn sao chép lẫn nhau. Việc phát hiện, bồi dưỡng và biểu dương khen thưởng các tập thể, cá nhân điển hình chưa được quan tâm đúng mức, nên chưa tạo ra phong trào lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.
      Công tác kiểm tra, giám sát vẫn còn hạn chế, chưa thực hiện đúng quy trình, quy định về công tác kiểm tra, giám sát.
     Công tác dân vận chưa được chú trọng đúng mức, nhất là dân vận chính quyền; có lúc chưa kịp thời nắm bắt những vấn đề, bức xúc nổi cộm trong nhân dân để chỉ đạo, xử lý;  phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” có lúc, có nơi chưa được thực hiện đầy đủ.
     5. Xây dựng chính quyền, cải cách thủ tục hành chính
     5.1. Ưu điểm
     Hội đồng nhân dân xã đã từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động. Nội dung các kỳ họp ngày càng có chất lượng, nhất là trong việc thảo luận và ra nghị quyết. Việc tiếp xúc và giải quyết những ý kiến, kiến nghị của cử tri có nhiều tiến bộ; công tác giám sát được tăng cường và đạt hiệu quả.
     Tổ chức bộ máy và hoạt động Ủy ban nhân dân xã tiếp tục được củng cố, kiện toàn, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành. Hầu hết cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Thực hiện tốt việc các nhiệm vụ theo phân công, phân cấp trong giải quyết công việc, cơ bản bảo đảm phát huy vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương và người đứng đầu.
     Công tác cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng. Thực hiện tốt nhiệm vụ tiếp công dân, tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ tại bộ phận “một cửa” và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001: 2008, tạo bước chuyển biến trong quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức và công dân. Thường xuyên rà soát thủ tục hành chính, đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét loại bỏ các thủ tục phiền hà, rút ngắn thời gian giải quyết công việc của công dân và tổ chức. Công nghệ thông tin được ứng dụng mạnh trong hoạt động của chính quyền, góp phần thúc đẩy cải cách hành chính; việc sử dụng phần mềm quản lý văn bản điều hành tác nghiệp trong chuyên môn, xây dựng trang thông tin điện tử đã góp phần trong việc tiết kiệm thời gian, giấy tờ, quản lý tốt từng khâu trong giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính.
       5.2. Hạn chế, yếu kém
      Hoạt đồng của Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân vẫn còn hạn chế, có lúc chưa thực sự đại biểu cho quyền lợi, nguyện vọng của nhân dân. Nhân sự chức danh Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã thường xuyên biến động (trong nhiệm kỳ có tới 03 đồng chí đảm nhiệm chức danh Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã). Chất lượng các buổi tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân chưa cao; việc tổ chức giám sát của Hội đồng nhân dân xã còn hình thức, chưa sâu sát.
Ủy ban nhân dân xã triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng ủy còn chậm, chưa quyết liệt, thiếu kiểm tra nên một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội không đạt; ý thức thực hiện chức trách, nhiệm vụ của một số công chức chưa cao; chưa chủ động trong công tác tham mưu, vẫn còn tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, đổ thừa cho người khác hoặc lỗi do khách quan; tổ chức xin lỗi tổ chức, cá nhân theo tinh thần Chỉ thị số 16/CT-UBND, ngày 27/6/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai về việc thực hiện xin lỗi cá nhân, tổ chức theo quy định thực hiện chưa thường xuyên. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước một số lĩnh vực còn yếu, nhất là quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên, khoáng sản.
      6. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội
      6.1. Ưu điểm
     Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội của xã và Ban Công tác Mặt trận và các chi hội tại các thôn, làng thường xuyên được củng cố, kiện toàn, từng bước đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đa dạng hóa các hình thức tập hợp quần chúng vào tổ chức để nâng cao chất lượng hoạt động theo đúng tinh thần Kết luận số 62-KL/TW ngày 08/12/2009 của Bộ Chính trị. Việc triển khai thực hiện giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền theo Quyết định số 217, 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị và việc thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW của Bộ Chính trị và Quy định số 124-QĐ/TW của Ban Bí thư được quan tâm triển khai và đã đạt được kết quả nhất định; thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không tin, không nghe, không theo các luận điệu xuyên tạc, kích động, lôi kéo của các thế lực thù địch, triển khai thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thu hút được khá đông đảo của quần chúng nhân dân tham gia và đạt một số kết quả tích cực, nhất là các phong trào thi đua về phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa, nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo, từ đó đã xuất hiện một số gương điển hình; qua đó vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ngày càng được nâng lên, đoàn viên, hội viên ngày càng gắn bó với tổ chức. Đến nay 100% thôn, làng, có tổ chức chi đoàn, chi hội; tỷ lệ quần chúng được tập hợp vào tổ chức đoàn, hội đạt 72,4%. Đã xây dựng và bồi dưỡng chính trị được 357 hội viên nòng cốt, cốt cán, chiếm 6,6% so với tổng số đoàn viên, hội viên. Qua đánh giá chất lượng hằng năm Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội từ xã đến thôn, làng xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên đạt trên 70%. Phối hợp giải quyết kịp thời những nguyện vọng chính đáng và tháo gỡ bức xúc của của đoàn viên, hội viên, nhân dân. Khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo quốc phòng - an ninh.
      6.2. Hạn chế, yếu kém
     Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội có mặt còn hạn chế. Chất lượng hoạt động của một số chi hội ở thôn, làng còn thấp, một số đồng chí Trưởng Ban công tác Mặt trận, chi hội trưởng các chi hội chưa phát huy tính tích cực, năng động, thiếu tâm huyết trong công việc. Công tác xây dựng, củng cố tổ chức đoàn, hội vẫn chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, nhất là Đoàn thanh niên. Vai trò hội viên cốt cán trong các tổ chức đoàn thể chưa thực sự được phát huy. Các phong trào thi đua, các cuộc vận động của các hội, đoàn thể triển khai nhiều, nhưng thiếu sơ kết, tổng kết, chưa đánh giá đúng chất lượng, hiệu quả và đề ra được các giải pháp phù hợp với thực tế. Việc triển khai giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền theo Quyết định số 217, 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị những năm đầu còn lúng túng, chưa lựa chọn được nội dung phù hợp để giám sát, kết quả giám sát chưa cao; việc triển khai thực hiện Quy định số 99-QĐ/TW của Ban Bí thư và Quy định số 124-QĐ/TW của Ban Bí thư còn chậm. Tỷ lệ tập hợp quần chúng vào tổ chức hội đạt thấp (đạt 72,4%, chỉ tiêu Nghị quyết đề ra là 85%); một số đoàn thể được đánh giá, xếp loại hằng năm chỉ ở mức hoàn thành nhiệm vụ (Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Nông dân).
      II- Đánh giá tổng quát quá trình thực hiện các nhiệm vụ chính trị của trong 5 năm qua
      1. Ưu điểm
     - Trong 05 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XI, nhiệm kỳ 2015-2020, được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy, mà trực tiếp là Ban Thường vụ Huyện ủy, Thường trực Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện và sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan chuyên trách, tham mưu, giúp việc Huyện ủy, sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội huyện và sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân xã Ia Băng nên trong 5 năm qua Đảng bộ xã Ia Băng đã lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện đạt nhiều kết quả đáng khích lệ; đạt và vượt 17/28 chỉ tiêu nghị quyết đề ra (có phụ lục kèm theo). Kinh tế - xã hội có bước phát triển khá; thu nhập bình quân đầu người năm 2020 tuy không đạt chỉ tiêu đề ra nhưng đã tăng 1,76 lần so với năm 2015. Giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt được nhiều kết quả tích cực; các chính sách an sinh xã hội được kịp thời triển khai thực hiện đảm bảo đúng đủ, kịp thời, đúng đối tượng, không để xảy ra tình trạng đơn thư, khiếu nại, tố cáo; hoạt động thông tin, văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao đạt được một số kết quả tích cực; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo.
       Quốc phòng - an ninh chính trị được bảo đảm, trật tự an toàn xã hội cơ bản ổn định. Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội và kiềm chế tệ nạn giao thông được quan tâm.
      Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được quan tâm; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ủy, Chi bộ và đảng viên được nâng lên; tự phê bình và phê bình trong Đảng bộ, đảng viên được phát huy; hệ thống chính trị được củng cố kiện toàn, cơ bản đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ngày càng phát huy được vị trí, vai trò của mình trong hệ thống chính trị, là cầu nối, cánh tay nối dài của Đảng và chính quyền, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó vai trò giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền bước đầu đạt kết quả.
       2. Hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân
       2.1. Hạn chế, khuyết điểm
     Trước Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XI, Đảng bộ xã chưa đánh giá đúng tình hình nên đưa ra một số chỉ tiêu quá cao, đồng thời chưa lường được những diễn biến bất lợi, khó khăn ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội, nên có 5/11 chỉ tiêu về kinh tế - xã hội thực hiện không đạt theo Nghị quyết. Kinh tế của xã có bước phát triển, nhưng chưa bền vững, giá trị sản xuất chủ yếu là nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp còn mang tính tự phát, chủ yếu dựa vào tự nhiên, chưa có nhiều ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, chưa có mô hình điển hình; tổng diện tích sản xuất nông nghiệp tăng, nhưng sản lượng đạt thấp. Doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể tăng, nhưng quy mô nhỏ; dịch vụ chủ yếu là cung ứng những nhu cầu thiết yếu và phục vụ sản xuất nông nghiệp; việc tuyên truyền, vận động các hộ kinh doanh cá thể thành lập doanh nghiệp chưa được quan tâm đúng mức và việc kêu gọi, thu hút đầu tư vào địa bàn chưa hiệu quả. Nhiều chỉ tiêu về xây dựng Nông thôn mới đã đạt, nhưng chưa bền vững; một số hộ dân vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước.
      Văn hóa - xã hội còn một số vấn đề cần quan tâm, chất lượng giáo dục học sinh người dân tộc thiểu số chưa cao; rà soát, thống kê phổ cập giáo dục các cấp học chưa thực chất; có một số giáo viên vi phạm đạo đức lối sống phải kỷ luật; chất lượng nguồn nhân lực thấp; công tác giảm nghèo đạt kết quả cao, nhưng chưa thực sự bền vững; vẫn còn những tranh chấp bức xúc về đất sản xuất trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
An ninh chính trị, an ninh nông thôn còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp; phạm pháp hình sự, tai nạn giao thông tăng cao so với nhiệm kỳ trước.
       Chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị và năng lực thực tiễn của một số cán bộ, công chức vẫn chưa ngang tầm với nhiệm vụ; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người đồng bào dân tộc thiểu số chưa được quan tâm đúng mức; tạo nguồn và phát triển đảng viên chưa đạt chỉ tiêu nghị quyết đề ra; công tác tuyên truyền, vận động để tập hợp quần chúng vào tổ chức còn nhiều hạn chế, do vậy còn 6/11 chỉ tiêu không đạt chỉ tiêu nghị quyết.
        2.2. Nguyên nhân
     Trong những hạn chế, khuyết điểm nêu trên có nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là các nhóm nguyên nhân sau:
       2.2.1. Nguyên nhân khách quan
    - Giá cả các mặt hàng nông sản chủ lực của xã giảm trong thời gian dài; ảnh hưởng của dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi, biến đổi khí hậu, thời tiết thất thường gây thiệt hại cho sản xuất và ảnh hưởng đến đời sống của người dân, nên nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội không đạt.
    - Là xã còn thụ hưởng ngân sách Nhà nước, thu chưa đủ chi. Trình độ dân trí chưa đồng đều giữa các thôn, làng; năng suất lao động và hiệu quả kinh tế còn thấp. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn ở mức cao.
   - Là xã trọng điểm về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, do vậy ngoài nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, Đảng bộ xã còn phải tập trung cho công tác đảm bảo nhiệm vụ an ninh chính trị.
        2.2.2. Nguyên nhân chủ quan
      - Việc nhận định và dự báo tình hình chưa tốt; năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của Đảng ủy, nhất là vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền còn hạn chế, có mặt chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị trọng tâm của Đảng ủy có mặt còn yếu. Việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực còn hạn chế; một số cán bộ, công chức thiếu ý chí phấn đấu, bằng lòng với hiện tại, thiếu tinh thần học tập, nghiên cứu tài liệu, chưa nắm kỹ được chức năng, nhiệm vụ để tham mưu cho cấp trên, chưa chủ động nắm bắt tình hình, tâm trạng tư tưởng và nguyện vọng chính đáng của nhân dân để tham mưu giải quyết.
     - Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên còn hạn chế; việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị chưa đi vào chiều sâu; công tác đấu tranh, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ chưa trở thành việc làm thường xuyên và tự giác trong Đảng ủy, chi bộ và đảng viên, còn biểu hiện né tránh, ngại va chạm, ý thức chấp hành kỷ luật của một số đồng chí cấp ủy viên chưa nghiêm, cá biệt còn có một số đồng chí chưa thật gương mẫu, thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu tu dưỡng, rèn luyện dẫn đến vi phạm phải xử lý kỷ luật. Chưa chủ động trong công tác quy hoạch cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt, cán bộ người dân tộc thiểu số, do vậy trong nhiệm kỳ khi có sự biến động về nhân sự thì không có nguồn thay thế, từ đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan. Công tác kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên.
       - Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội có thời gian, thời điểm có biểu hiện “hành chính hóa”; công tác tuyên truyền, vận động nhân dân còn hạn chế, do vậy việc tập hợp quần chúng vào tổ chức chưa đạt nghị quyết đề ra; các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động được triển khai nhiều nhưng thiếu chiều sâu, chưa thu hút được đông đảo nhân dân tham gia, chưa có nhiều mô hình hay.  
       3. Bài học kinh nghiệm         
      Một, Phải thường xuyên coi trọng công tác xây dựng tổ chức đảng, chính quyền thật sự trong sạch, vững mạnh; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị, có trình độ và năng lực thực tiễn, có phẩm chất đạo đức, gương mẫu, trách nhiệm với sự nghiệp cách mạng, gần gũi, gắn bó mật thiết với nhân dân.
     Hai, quán triệt và vận dụng phù hợp các chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào tình hình thực tế của xã; quan tâm thiết thực đến đời sống của nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Nắm bắt thông tin, dự báo tình hình, đồng thời bám sát thực tiễn để đề ra các giải pháp phù hợp. Quan tâm đến việc sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, các mô hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh để rút kinh nghiệm và phát huy những ưu điểm, đồng thời đề ra những giải pháp để khắc phục các hạn chế, khuyết điểm. Đề cao dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể và trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện chức trách nhiệm vụ.
      Ba, đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của chính quyền, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động trong toàn Đảng bộ và toàn dân; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.
Bốn, quan tâm đến củng cố, giữ vững quốc phòng - an ninh, nhằm đảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Coi trọng xây dựng và triển khai tốt phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, trong đó hạt nhân là lực lượng cốt cán trong các tổ chức quần chúng.

THÔNG BÁO

TIN ẢNH

THĂM DÒ Ý KIẾN

Làm thế nào bạn tìm thấy trang web này?
 
 
 
 

Thông tin liên hệ

Cơ quan: HĐND - UBND huyện Đak Đoa - Tỉnh Gia Lai
Địa chỉ: 184 Nguyễn Huệ - Thị trấn Đak Đoa - Huyện Đak Đoa - Tỉnh Gia Lai
Điện thoai: (0269)3831178 - Fax: (0269)3831843  - Email: ubnddakdoa@gialai.gov.vn
Người chịu trách nhiệm: Ông Mai Tấn Lợi - Chánh văn phòng HĐND - UBND huyện Đak Đoa
Giấy phép: 08/GP-TTĐT ngày 28 tháng 11 năm 2013 của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Gia Lai