Xã Đắk Krong > Giới thiệu > Thành tựu giai đoạn 2010-2015
II-Những thành tựu đạt được giai đoạn 2010 - 2015
1- Kinh tế:
        Trong 5 năm qua, tăng trưởng kinh tế đạt khá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, nhiều chỉ tiêu đạt và vượt Nghị quyết XV đề ra. Cụ thể: tỷ trọng nông nghiệp giảm 8.7%; Công nghiệp, thương mại dịch vụ tăng 8.7%. Tổng giá trị sản xuất tăng đều qua các năm, tính đến cuối năm 2014 đạt 125 tỷ, tăng 40 tỷ so với năm 2010. Thu nhập bình quân đầu người năm 2014 đạt 23 triệu đồng, tăng 10 triệu so với Nghị quyết XV, ước tính đến cuối năm 2015 đạt 25 triệu đồng.
           Từ chủ trương nâng cao chất  lượng phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Trong nhiệm kỳ vừa qua, Đảng bộ và nhân dân trong xã đã tích cực, nỗ lực tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp tăng diện tích và tăng năng suất cho cây trồng, vật nuôi. Tổng diện tích cây trồng toàn xã là: 1643,4ha/1638ha (đạt 100.3% NQ); Trong đó: diện tích cây trồng hàng năm là: 508/508ha đạt 100 % Nghị quyết XV; diện tích cây trồng lâu năm là 1.135/1.130ha đạt 100,3 % Nghị quyết XV (Cà phê: 680ha; Hồ tiêu: 70ha; Cao su: 252ha; Bời lời 75ha và cây ăn quả là 58ha).
Tổng đàn gia súc là 6858 con trong đó: đàn bò 800 con (tỷ lệ bò có máu lai đạt 45%/30%NQ); heo 2008 con (tỷ lệ heo lai đạt 80%/80% /NQ). Tổng đàn gia cầm là 4050 con (đạt 101.2%NQ). Nhìn chung chăn nuôi phát triển về số lượng nhưng quy mô nhỏ lẻ, từng hộ gia đình. Công tác phòng chống dịch bệnh, cải tạo giống đàn gia súc, gia cầm được quan tâm; kiểm soát tốt các loại dịch bệnh, không xảy ra trên diện rộng.
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ từng bước phát triển như: sản xuất cá thể, ngành cơ khí nhỏ: gò hàn, 05 tiệm may mặc và 10 tiệm sửa chữa mô tô xe máy, điện, máy nổ các loại, từng bước đáp ứng đời sống nhân dân trên địa bàn. Dịch vụ mua, bán , ăn uống được hình thành và phát triển đa dạng, đã tạo động lực phát triển hàng hóa ở nông thôn, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Xuất hiện nhiều mô hình sản xuất kinh doanh gỏi đạt hiệu quả tăng theo hàng năm (năm 2010: 192 hộ; năm 2011: 230 hộ; năm 2012: 322 hộ; năm 2013: 340 hộ; năm 2014: 349 hộ).
Triển khai chương trình xây dưng nông thôn mới, sau 03 năm với sự quan tâm của các cấp, sự nỗ lực vươn lên của nhân dân bộ mặt nông thôn đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhân dân đã hiến đất làm đường, góp công, tiền xây dựng cầu, đường giao thông tạo điều kiện thuận lợi đi lại trong mùa mưa; góp hàng trăm triệu đồng xây dựng đường điện thắp sáng dọc Tỉnh lộ 670B. Trong quá trình triển khai chương trình đã lồng ghép với các chương trình mục tiêu khác như: CT 135, 168, giảm nghèo bền vững…trong nhiệm kỳ qua đã xây dựng được 02 công trình thủy lợi vói tổng trị giá 1.870 triệu đồng.
Xây dựng được 04 phòng trường Mầm non; 02 phòng học Trường tiểu học Sữa chữa cầu Đê hoch, hoàn thành cầu dân sinh tại thôn 4; 02 nhà sinh hoạt cộng đồng cho 02 thôn: Đak Ioh và Đêthung; hoàn thành đưa vào sử dụng 476m đường GTNT tại 02 làng: Đak Ioh và Đê Thung; 139 mét giao thông làng Đê klanh, với tổng mức đầu tư 2.541.592 ( trong đó nhân dân đóng góp là 1.2 tỷ đồng)
 Đến thời điểm tháng 12/2014 xã đạt được 09/19 tiêu chí ( Điện, bưu điện, y tế, giáo dục, và các hình thức tổ chức sản xuất, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên, thu nhập, và nhà ở dân cư, an ninh trật tự). Phấn đấu đến năm 2017 xã đạt xã Nông thôn mới theo lộ trình.
Tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 2014 so với năm 2010: 205.463.780 đ/128.584.355đ, tăng 62%;. Nhìn chung tình hình thu trên địa bàn ngày một tăng lên, phần nào đáp ứng được cơ bản chi hoạt động trên địa bàn. Hiệu quả sử dụng các nguồn vốn vay trên địa bàn đạt hiệu quả cao, chất lượng đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân ngày được nâng lên.
Công tác chăm sóc và bảo vệ rừng (toàn xã có 512,34ha rừng tự nhiên) được cấp ủy quan tâm thường xuyên, thành lập, củng cố BCĐ phòng chống cháy rừng của xã, thành lập 5 tổ đội PCCR ở 5 làng, lập phương án PCCCR sẵn sàng tham gia khi có cháy rừng xảy ra; phân chia chôn mốc ranh rới địa phận khu vực rừng từng làng để quản lý, bảo vệ. Thường xuyên tuyên truyền về công tác QLBVR, không phát nương làm rẫy, lấn chiếm đất trồng rừng để canh tác. Tổ chức truy quét những khu vực trọng điểm về tình trạng khai thác vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép. Quản lý chặt chẽ việc khai thác tài nguyên, khoáng sản, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
2-Văn hóa – xã hội :
Đảng ủy xác định giáo dục là chính sách trọng tâm để thúc đẩy sự phát triển toàn diện và bền vững của địa phương, vì vậy trong những năm qua công tác giáo dục luôn được quan tâm đầu tư cả về cơ sở vật chất đến chất lượng dạy và học, đã tổ chức được những lớp học 2 buổi trên ngày. Công tác xã hội hóa giáo dục đã được cấp ủy và nhân dân quan tâm, trong nhiệm kỳ tỷ lệ học sinh giỏi ngày một tăng (năm học 2013 - 2014: 17.3 % ; tăng so với năm 2010 là 7.3 % ). Hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ giáo dục THCS; tỷ lệ trẻ trong độ tuổi đến lớp hàng năm đạt 99%; nhìn chung về cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên của các trường cơ bản đảm bảo đủ để phục vụ cho công tác dạy và học. Chỉ đạo chi bộ nhà trường tiến hành triển khai triệt để phong trào “Hai không” và xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”; “Đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục”. Dự án VN EN sau 02 năm triển khai đã bước đầu có những kết quả tích cực, học sinh cơ bản thích nghi với mô hình dạy học mới.  Thành lập trung tâm học tập cộng đồng và phối hợp trường trung cấp nghề tỉnh Gia Lai mở 07 lớp học nghề cho đoàn viên hội viên với 261 học viên tham gia, chủ yếu là các lớp sửa chữa máy nổ, chăm sóc cà phê, cao su, hồ tiêu. Chất lượng hoạt động của hội đồng giáo dục, hội khuyến học, trung tâm học tập cộng đồng ngày được củng cố và nâng lên.
Công tác chăm sóc sức khoẻ và phòng chống dịch bệnh cho nhân dân được quan tâm. Trạm y tế trung tâm xã Đak Krong đạt chuẩn quốc gia về y tế xã từ năm 2010, đội ngũ cán bộ y tế ngày được củng cố về số lượng cũng như chất lượng đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân, trung bình khám chữa bệnh hàng năm 89.75%; Hiện nay trạm đã có máy siêu âm và nhiều thiết bị hiện đại khác phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng năm 2010 là 19%; đến năm 2014 giảm còn 17.9%. Triển khai các chương trình quốc gia, chương trình phòng chống sốt rét, triển khai chăm sóc sức khỏe sinh sản và KHHGĐ, công tác tiêm chủng mở rộng trên 11 thôn, làng đạt 100%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (năm 2011 là: 1.42% ; năm 2013 giảm xuống còn 1.34%; năm 2014 giảm còn 1,29% đạt  100% Nghị quyết XV).
Lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể thao có những chuyển biến tích cực. Triển khai phong trào đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư; xây dựng công sở văn hóa. Tăng cường công tác quản lý các dịch vụ, hoạt động kinh doanh văn hoá trên địa bàn. Đảng ủy thường xuyên quan tâm, chỉ đạo hoạt động của Ban chỉ đạo xây dựng khu văn hóa dân cư, hiện nay đã có 03 thôn đạt danh hiệu “ thôn làng văn hóa” được huyện công nhận. Số hộ đạt gia đình văn hoá từ năm 2011 đến nay có 895 hộ đạt danh hiệu “gia đình văn hóa” chiếm 69% tổng số hộ. Để phục vụ cho công tác tuyên truyền các chủ trương chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước tới nhân dân, xã đã đề nghị cấp trên lắp 05 cụm FM tại các thôn, làng xa trung tâm xã, có điều kiện kinh tế còn khó khăn.
Công tác an sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo được chú trọng, số hộ nghèo giảm hàng năm (năm 2011 là 272 hộ nghèo chiếm 22.7% hiện nay toàn xã còn 149 hộ nghèo chiếm 11.9% đạt 100% Nghị quyết XV). Hoàn thành chương trình 167 về hỗ trợ xây dựng nhà ở cho người nghèo, người đồng bào DTTS. Triển khai chương trình 135 đã triển khai các hợp phần là đầu tư xây dựng đường giao thông, hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ học sinh con hộ nghèo đi học, công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật và tập huấn nâng cao năng lực cộng đồng cho nhân dân. Trong 05 năm qua xã đã triển khai có hiệu quả các chương trình, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội đối với người nghèo, người DTTS: Hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo, chương trình cấp muối, phân bón, giống cây trồng, rà soát và cấp 76 con bò cho không thuộc chương trình 135;168; giảm nghèo bền vững cho hộ nghèo.
Luôn quan tâm thực hiện chế độ chính sách đối với thương, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, công tác trợ cấp xã hội cho các đối tượng trên địa bàn, thăm hỏi và tặng quà cho các đối tượng chính sách hàng năm, nhận hỗ trợ từ nhiều nguồn, nhiều đơn vị hàng năm trên 10 triệu đồng để làm công tác xã hội. Chỉ đạo triển khai có hiệu quả các chính sách xã hội trên địa bàn như: quyết định 290, 142, chất độc da cam. Xây dựng, và sửa chữa 16 căn nhà cho các đối tượng là gia đình chính sách, người có công theo quyết định 515/QĐ – UBND ngày 18/9/2013 của UBND tỉnh Gia Lai. Được sự quan tâm của nhà Nước, các ngành đoàn thể đã xây dựng nhà đại đoàn kết 05 cái; nhà an sinh xã hội 04 cái; nhà tình nghĩa 03 cái.
Phối hợp với Nông trường cà phê Đak Đoa trong việc phát triển kinh tế xã hội đảm bảo an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; tạo điều kiện việc làm cho 419 công dân trên địa bàn làm công nhân tại Nông trường, nhìn chung số lao động được đào tạo nghề hàng năm ngày một tăng, đáp ứng yêu cầu phục vụ nền kinh tế nông, lâm nghiệp tại địa phương.
Thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện triệt để công tác chính sách dân tộc, tôn giáo trên địa bàn đảm bảo cho các tôn giáo được sinh hoạt theo đúng Pháp lệnh của Nhà nước quy định. Chỉ đạo triển khai triệt để các chính sách về dân tộc của Đảng, Nhà nước trên địa bàn. Cương quyết đấu tranh vạch trần những âm mưu của kẻ thù lợi dụng các vấn đề dân tộc tôn giáo, đưa các đối tượng vi phạm ra kiểm điểm trước dân.
3- Về quốc phòng, an ninh chính trị và thực hiện cải cách tư pháp
3.1-Công tác quốc phòng
Đảng bộ xác định an ninh quốc phòng là công tác thường xuyên trọng yếu, luôn quan tâm chăm lo xây dựng củng cố quốc phòng an ninh, xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ Quốc, không ngừng củng cố dân quân tại chỗ. Duy trì nghiêm công tác huấn luyện dân quân từng bước nâng cao mức độ trực sẵn sàng chiến đấu và độ tin cậy (hàng năm đạt 90%KH). Tổng số lực lượng dân quân hiện nay là 69 đồng chí (chiếm 1.4%dân số) trong đó dân quân cơ động là 28 đồng chí; dân quân tại chỗ là 33 đồng chí, dân quân trinh sát là 03 đồng chí. Tăng cường duy trì sinh hoạt Đoàn trong chi đoàn dân quân từ đó tạo ra các nhân tố điển hình giới thiệu cho Đảng kết nạp (đảng viên trong lực lượng dân quân là: 10đ/c). Đăng ký độ tuổi 17 đạt 1% so với dân số; công tác khám sức khoẻ trong độ tuổi nhập ngũ đạt 5,1% so với dân số, giao quân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu. Diễn tập chiến đấu trị an năm 2010 đạt loại khá.
3.2-Công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Tình hình ANCT cơ bản ổn định, chỉ đạo các lực lượng phối kết hợp tăng cường xuống địa bàn, quản lý chắc các đối tượng, đấu tranh, bóc gỡ vô hiệu hoá hoạt động của các đối tượng fulrô và âm mưu phục hồi tin lành Đêga, ngăn chặn không cho lôi kéo móc lối vượt biên trái phép sang Campuchia. Phân công cán bộ, đảng viên theo dõi giúp đỡ các đối tượng; ra quyết định phân công 5 đoàn thể phụ trách 5 làng. Giải quyết dứt điểm các vụ liên quan đến an ninh nông thôn như các vụ tranh chấp đất đai, mâu thuẫn trong nội bộ đồng bào dân tộc thiểu số từ đó làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ và nhân quyền để kích động, lôi kéo đồng bào dân tộc biểu tình bạo loạn trốn vượt biên trái phép sang cam pu chia. Quản lý đối tượng tại xã hiện còn 11 đối tượng (trong đó loại A: 03 đối tượng; loại B: 08 đối tượng; không có loại C) giảm 29 đối tượng so với năm 2010.
Tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, ngăn chặn và xử lý các tệ nạn xã hội giữ gìn trật tự nơi công cộng. Thường xuyên quản lý đối với những đối tượng mới ra tù và được hưởng án treo tại địa phương, có kế hoạch theo dõi, giúp đỡ. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền luật giao thông đường bộ, duy trì tổ an toàn giao thông thường xuyên tuần tra địa bàn, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm nhằm giảm tối đa các vụ tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội được ngăn chặn giảm dần. Tình hình trộm cắp, gây mất trật tự nơi công cộng có chiều hướng giảm: 10/18 vu.(giảm 08 vụ so với năm 2010), tuy nhiên lại tăng về mức độ manh động, tinh vi và nguy hiểm, đối tượng vi phạm chủ yếu là thanh thiếu niên. Thường xuyên củng cố lực lượng công an từ xã tới các thôn làng đảm bảo số lượng, chất lượng và độ tin cậy khi thực hiện nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
3.3- Thực hiện cải cách tư pháp:
Công tác cải cách tư pháp có nhiều tiến bộ, nâng cao hiệu quả trong việc tuyên truyền các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến cán bộ, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn như: Hiến pháp năm 2013, luật giao thông đường bộ, pháp lệnh tôn giáo…Công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được chú trọng, tiếp nhận đơn kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định. Hàng năm có kế hoạch đấu tranh, phòng chống tham nhũng, lãnh phí, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục và lâu dài.
4-Công tác xây dựng Đảng.
Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ đảng viên và nhân dân được coi trọng, thường xuyên được đổi mới với nhiều hình thức, phương thức đa dạng, nhằm nâng cao nhận thức của của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân luôn tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng (tổ chức 15 hội nghị quán triệt Nghị quyết, Chỉ thị các cấp; 13 buổi thông tin thời sự trong nước và quốc tế). Tiếp tục thực hiện việc đổi mới phương thức lãnh đạo của toàn Đảng bộ, duy trì nghiêm quy chế hoạt động của Ban chấp hành và chỉ đạo nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo Chỉ Thị số 10 –CT /TW ngày 30/3/2007 của Ban Bí Thư Trung ương “Về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ” và Hướng dẫn số 09-HD /BTCTW ngày 25/5/2007 về “Nội dung sinh hoạt chi bộ trong các loại hình tổ chức cơ sở Đảng”. Trong nhiệm kỳ, đảng uỷ đã bổ sung quy chế hoạt động, chương trình làm việc của Ban chấp hành. Đảng uỷ đã ban hành 29 Nghị quyết; 120 Quyết định; 10 Chương trình; 129 danh sách; 97 Kế hoạch, Công văn các loại có tính chất hướng dẫn để lãnh đạo và định hướng tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ chính trị “về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đảng bộ đã xây dựng kế hoạch, chương trình hành động phù hợp với thực tế địa phương, từ đó đã tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; đề ra các giải pháp phù hợp để đưa việc làm theo gương Bác trở thành thường xuyên, cụ thể, thiết thực, đã xuất hiện các điển hình tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc. Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “một số vấn đề cấp bách về xây dựng đảng hiện nay” trong quá trình kiểm điểm tập thể Ban thường vụ Đảng uỷ đã nghiêm túc nhìn nhận những yếu kém khuyết điểm trong việc lãnh đạo, chỉ đạo trong việc phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo tình hình an ninh chính trị TTATXH, công tác xây dựng hệ thống chính trị ở xã. Từ đó mỗi cá nhân các đồng chí trong Ban thường vụ thẳng thắn tự phê bình và phê bình nhìn nhận những ưu, khuyết điểm bản thân trong chức trách nhiệm vụ được giao, xây dựng kế hoạch khắc phục trong thời gian tới. Các kết luận sau kiểm điểm theo tinh thần nghị quyết trung ương 4 (khoá XI) được Ban thường vụ đảng uỷ, các chi bộ và đảng viển triển khai thực hiện nghiêm túc, đúng lộ trình kế hoạch đề ra.
           Tiếp tục thực hiện đề án 01-ĐA/HU của huyện uỷ về củng cố hệ thống chính trị từ thôn đến xã. Cán bộ chuyên trách, công chức đảm bảo đủ về số lượng, 100% đạt chuẩn về chuyên môn. Tổng số cán bộ từ xã đến thôn hiện có:  110 đồng chí, trong đó trình độ văn hoá THCS: 77 đồng chí chiếm 77,8%; THPT: 22 đồng chí chiếm 22,2%, có 11đ/c trình độ tiểu học chiếm 11,2 %.
            Công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ được quan tâm thường xuyên nhất là cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ DTTS; trong nhiệm kỳ đã đề nghị huyện uỷ bổ sung 01 đồng chí phó bí thư thường trực; 02 đồng chí uỷ viên Ban thường vụ; 04 đồng chí uỷ viên Ban chấp hành đảng bộ xã; sắp xếp và phân công cán bộ, công chức tham gia các lớp đào tạo về chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; đã cử đi học Đại học 03 đồng chí; TC chuyên môn 10 đồng chí; TC chính trị 07 đồng chí; sơ cấp chính trị 15 đồng chí.
            Qua đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên hàng năm, số chi bộ đạt trong sạch vững mạnh hàng 20%; Đảng bộ hàng năm được đánh giá là hoàn thành nhiệm vụ; có 95% đảng viên được xếp hoàn thành nhiệm vụ (trong đó hoàn thành tốt nhiệm vụ chiếm 70%). Công tác kết nạp quần chúng ưu tú vào đảng được Đảng bộ quan tâm, đầu nhiệm kỳ toàn đảng bộ có 74 đảng viên, đến nay toàn đảng bộ có 111 đảng viên. Cả nhiệm kỳ đảng bộ đã kết nạp được 37 đảng viên đạt tỷ lệ bình quân hàng năm 7,5% .
            Công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng luôn được trú trọng, ngay từ đầu nhiệm kỳ Đảng uỷ đã xây dựng chương trình, quy chế làm việc toàn khoá và chương trình kiểm tra giám sát hàng năm; đồng thời tổ chức triển khai thực hiện Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01/11/2011 của Ban chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra giám sát trong chương VII, chương VIII Điều lệ Đảng; Quy địng 47-QĐ/TW ngày 01/11/2011 của Ban chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm. Trong nhiệm kỳ đảng bộ đã xây dựng kế hoạch kiểm tra 6 chi bộ, giám sát 6 chi bộ đã cảnh cáo 04 đảng viên; khiển trách 10 đảng viên; giải quyết rứt điểm 01 đơn tố cao đảng viên do huyện chuyển về.
Công tác dân vận từng bước chuyển biến cả về nội dung, phương thức hoạt động trong cả hệ thống chính trị, với phương châm về thôn làng, tập chung tháo gỡ những khó khăn, bức xúc nổi cộm trong nhân dân, tổ chức vận động nhân dan thực hiện tốt các đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tổ chức hội thi “Dân vận khéo” tại xã và tham gia hội thi dân vận khéo của huyện và cụm tổ chức; vận động nhân dân tích cực tham gia các phong trào xây dựng nông thôn mới, phong troà toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá… từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác dân vận, phát triển kinh tế xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, giữ vững khối đại đoàn kết, phát huy tính dân chủ trong xã hội.
5-Công tác xây dựng chính quyền, cải cách thủ tục hành chính
Hoạt động HĐND từng bước đổi mới nâng cao nội dung, chức năng giám sát của HĐND từng bước có hiệu quả, thông qua các kỳ họp, buổi tiếp xúc cử tri; kết quả đánh giá xếp loại hàng năm ngày một được nâng lên. Tập thể HĐND - UBND năm từ năm 2010 đến năm 2014 đều được Ủy ban nhân dân huyện đánh giá là hoàn thành nhiệm vụ được giao
Hiệu lực, hiệu quả quản lý và điều hành của UBND ngày được nâng lên việc triển khai và thực hiện pháp lệnh quy chế dân chủ ở cơ sở được chú trọng, quan tâm củng cố kiện toàn một số chức danh còn thiếu, đến nay 100% cán bộ công chức đảm bảo về số lượng và chuyên môn nghiệp vụ. Hàng năm triển khai đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, nhằm từng bước nâng cao năng lực công tác tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ. Công tác cải cách thủ tục hành chính luôn được chú trọng; thường xuyên rà soát cải cách hành chính theo hướng “một cửa”; duy trì công tác tiếp công dân định kỳ vào thứ 7 hàng tuần để kịp thời tiếp nhận phán ánh, kiến nghị của tổ chức, công dân và giải quyết theo đúng quy định.
6- Hoạt động của  mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể.
Mặt trận tổ quốc tổ chức khá tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, xã hội cho đoàn viên, hội viên và quần chúng nhân dân trong các ngày lễ, kỷ niệm lớn của dân tộc. Củng cố, kiện toàn các tổ chức còn thiếu, kiêm nhiệm và yếu kém ở các thôn; vận động phát triển đoàn viên, hội viên và các tổ chức, xây dựng lực lượng nòng cốt của từng tổ chức: Mặt trận xây dựng được 15 cốt cán, Hội phụ nữ tập hợp hội viên được 80%, xây dựng nòng cốt được 210 chị; Hội cựu chiến binh tập hợp được 90% hội viên vào hội và lực lượng nòng cốt là 50 đ/c, được huyện hội đánh giá 5 năm liền là đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đoàn thanh niên tập hợp được 705 hội viên vào hội, xây dựng 45 lực lượng nòng cốt ; hội nông dân tập hợp được 80% hội viên vào hội, xây dựng được 82 cốt cán.
Triển khai thực hiện có hiệu quả các phong trào do cấp trên phát động, trong đó nổi bật nhất là phong trào vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, hiện nay 69% gia đình đạt danh hiệu “ gia đình văn hóa”, 09 khu dân cư tiên tiến, 95% ban công tác Mặt trận thôn làng xếp loại khá trở lên;  “Quần chúng tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc”, phát động gia đình ký cam kết đảm bảo an toàn giao thông được 1021 hộ tham gia;  Đoàn thanh niên có phong trào“ xung kích phát triển kinh tế xã hội, đồng hành cùng thanh niên lập thân, lập nghiệp”, trong 05 năm qua đã có 57 đoàn viên, thanh niên lên đường nhập ngũ, đảm bảo 100% chỉ tiêu giao. Phụ nữ có phong trào : “phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”; cuộc vận động “5 không 3 sạch”. Hiện tại có 7/11 chi hội đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh; 61 chị đạt phụ nữ phát triển kinh tế giỏi. Hội cựu chiến binh phát huy truyền thống của Bộ đội cụ Hồ trong phong trào xây dựng và bảo vệ tổ quốc: “Hội viên giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo”, “cựu chiến binh sán xuất kinh doanh giỏi”, “phong trào đến ơn đáp nghĩa”. Hội nông dân có phong trào “ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi ”. Thực hiện Nghị quyết số  21 -NQ/ĐU về xây dựng địa bàn xã không ma túy Mặt trận các Đoàn thể tổ chức xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện. Hoạt động có hiệu quả của Mặt trận tổ quốc và các Đoàn thể cũng là nhân tố quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị hàng năm của Đảng bộ, chính quyền đã đề ra.
 
ttgd.png
hoavan.png

 THÔNG TIN LIÊN HỆ

Ban biên tập: UBND huyện Đak Đoa
Chịu trách nhiệm chính: Bà Kiều Thu Hương - Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện
Giấy phép số: 01/GP-TTĐT ngày 21 tháng 02 năm 2019 của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Gia Lai
Địa chỉ: 68 Trần Hưng Đạo, Thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai
Điện thoại: (0269)3831178 - Fax: (0269)3831178
Email: ubnddakdoa@gialai.gov.vn